Thành ngữ Tiếng Việt  -  Vietnamese Idioms 

  
Thành ngữ là gì? Thành ngữ là cách diễn đạt ý tưởng mang tính cách đặc trưng của ngôn ngữ. Về cấu trúc phần lớn thành ngữ không thành câu với những từ-ngữ không thể tách rời và không thể phân tích. Về nghĩa thành ngữ mang một ý nghĩa không thể thay thế hay sửa đổi bằng cách nói khác để mang cùng ý nguyên thuỷ. Chẳng hạn, thay vì nói khóc giả dối thì dùng thành ngữ nước mắt cá sấu. Không thể thay thế cá sấu bằng thứ cá khác mà giữ được nguyên nghĩa của thành ngữ. Nói cách khác, thành ngữ là cách nói “bóng bẩy” về một cái gì đó bình thường. Thành ngữ là bậc thang đầu tiên đi vào chiều sâu của một ngôn ngữ mà người nói sử dụng tuỳ theo trình độ ngôn ngữ kiến thức về nền văn hoá xứ đó.

Thật vậy, thành ngữ là cửa ngõ đầu tiên để đi vào cái tinh hoa của kho tàng ngôn ngữ một dân tộc. Thành ngữ khác tục ngữ ở chỗ nó không mang nhiều ý nghĩa. Hãy so sánh nước mắt cá sấu là thành ngữ với nước đổ đi rồ không hốt lại được để chỉ về “bất cứ sự việc đáng tiếc gì đã lỡ xảy ra rồi thì không thể trở lại như trước kia.” Thành ngữ không có ý răn đời.
Trong đối thoại hằng ngày người Việt có thói quen sử dụng rất nhiều thành ngữ.
 
Đây là ấn bản thứ nhì, chúng tôi xin giới thiệu gần 2000 thành ngữ thông dụng theo vần mẫu tự tiếng Việt: a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ô, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, và y.
Dưới dạng song ngữ Việt-Anh, mỗi thành ngữ tiếng Việt đều có nghĩa đen rồi nghĩa tương đương bên tiếng Anh kèm theo ngay đó. Phần lớn số thành ngữ tiếng Việt chọn lọc trong sách này đều có thành ngữ tiếng Anh tương đương. Chỉ một số rất ít, không có thành ngữ tương đương thì được chuyển theo nghĩa tiếng Anh thông thường. Ngoài ra, phần giải thích ngắn trên những thí dụ nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của thành ngữ dựa trên tinh thần văn hoá Việt Nam. Một số thí dụ được sử dụng luôn nghĩa đen để làm nổi bật cái thâm thuý của thành ngữ đó.
Về phần thành ngữ tương đương với tiếng Anh cũng rất phong phú. Tuy nhiên xin độc giả cần hiểu rằng, tiếng Anh thuộc ngôn ngữ của văn minh cơ khí nên đa số đều mang tính chất “công nghiệp”. Chẳng hạn, ván đã đóng thuyền của tiếng Việt thì tiếng Anh sẽ là ‘the die is cast’ hột súc sắc đã được đúc’ (hoặc hột súc sắc đã được thẩy xuống rồi). Cả hai thành ngữ đều cùng nói lên một ý “một việc đã có kết quả rồi không thể sửa đổi được nữa”.
Ngược lại, thành ngữ tiếng Việt đa số mang tính chất “nông nghiệp”   . . .​​
  
What is an idiom? From a Vietnamese perspective, though analyzable an idiom is an unpredictable way to express an idea. In fact, when someone means “something easy,” he can say “a piece of cake” but he cannot say “a piece of pudding” for the same idea. An idiom reflects how the cake of language is cut by its speakers.

It is probably that idiomatic expression use is the first of the many layers that a foreign language learner should go through to have an insight of the target language. Semantically, an idiom is different from a proverb. An idiom has a meaning, usually figurative, for a common thing, fact or a situation, descriptively. For example, to describe insincere tears one can say to shed ‘crocodile tears’. No other animals can be replaced to signify the similar intended meaning.

The reader will be amazed at fact that the two languages – Vietnamese and English – are structurally and semantically alike in quite a few idioms. For instance, both languages have crocodile tears, eyes bigger than stomach, water off a duck’s back, skin and bones, and more. What an interesting co-incidence!

The reader will also find this collection interesting as to see that language “reflects its culture.” Most English idioms reflect an industrial concept, whereas most Vietnamese idioms do reflect an agricultural concept. For example: English the die is cast to mean “a decision or an action that has been taken and cannot be changed” is well expressed as the wood has been made into a boat in Vietnamese. Or a fly in the ointment (an industrial product) for a caterpillar in the pot of soup (an agricultural product) is another.
The Vietnamese use a lot of idioms in their daily conversations.

This is the second edition, nearly 2500 idioms are alphabetically introduced according to the Vietnamese alphabet: a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ô, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, and y. Each idiom is accompanied by a literal translation and an equivalent English idiom. In case there is no exact equivalent, the idiom is accompanied with a free English translation. Following it is an explanation to clarify the gist of the idiom, enhanced with one or two examples.
Nonetheless, not all idioms in Vietnamese can be expected to have their exact equivalents in English. Due to differences in two cultures, some notions in this culture never exit in the other. For example khôn ăn cái dại ăn nước  (Literally: wise to eat the substance; foolish to eat the broth) Customarily it is said a wise person eats the subtance from which broth is made; the foolish person eats the broth that comes from the substance used to make it. Since the substance to make the broth is not nutritious, eating something stodgy at least makes one feel full until the next meal.

Lastly, examples used in this book reflect Vietnamese way of thinking. Some concepts, therefore, are not familiar to foreigners or Vietnamese born abroad. In order for the reader to have a good grasp at the idea introduced through an idiom, the author does his best to clarify it with an explanation, and a free translation of the given idiom and example. 
This is the first dictionary of Vietnamese idioms ever made in bilingual (Vietnamese-English). The author would highly appreciate any contributive comments from the reader to make it a perfect collection.