Ngữ âm tiếng ViệtĐại cương về ngữ học1. Định nghĩa:Một cách tổng quát, ngữ học là một ngành chuyên nghiên cứu về tất cả khía cạnh của ngôn ngữ nói chung hay của một ngôn ngữ nào đó nói riêng.Ngành ngôn ngữ học
bao gồm các lănh vực
nghiên cứu về: nhân
chủng ngôn ngữ học
(anthropological
linguistics--lx), ngôn
ngữ học ứng dụng
(applied lx, ngữ học
lịch sử (historical lx),
ngữ vị học (morphology),
ngữ âm học (phonetics),
âm vị (phonemics), ngữ
học thực dụng
(pragmatics), ngữ học
tâm lư (psycho-lx), ngữ
nghĩa học (semantics),
ngữ học xă hội
(socio-lx), cú pháp học,
vv…. 2. Ngữ pháp (grammar):Khảo sát về cách dùng chữ và cấu tạo câu. Ngữ pháp là thước đo khả năng thành thạo của người nói hay viết ngôn ngữ đó. Có hai loại ngữ pháp:
Đặc biệt phần ngữ pháp trong bài này đề cập đến hai từ loại: danh từ ghép và tính từ ghép. Danh từ ghép: Tiếng Việt có bốn h́nh thức danh từ ghép Loại Nôm-Nôm: Tức là hai hoặc ba tiếng đi với nhau đều là tiếng Việt hết. Trong mục này chúng tôi chua thêm tiếng Hán trong ngoặc để tiện so sánh.Thí dụ:
Các từ-ngữ Nôm-Nôm thông thường rất b́nh dân, bao hàm tính chất trừu tượng hay tập hợp hoá. Những đặc tính của tiếng Việt (Nôm-Nôm):
Trong các từ-ngữ trên đây cho thấy nhà bao hàm cả cửa. Nếu đứng riêng rẽ th́ nhà hay cửa đều có thể là danh từ đếm được: một nhà, hai nhà; một cửa, hai cửa. Nhưng khi được ghép lại với nhau th́ hai tiếng này biến thành từ tập hợp không dùng để đếm. Với cấu trúc như vậy chúng ta mới có thể giải thích tại sao người Việt nói vợ chồng, chứ không nói chồng vợ. Tương tự, chợ búa cũng vậy. Chợ là nơi tụ tập buôn bán có quy củ; búa là nơi tụ họp kiểu “chồm hổm” trên một băi đất trống, chừng nửa buổi là tan. Tiếng buá là tiếng Nghệ An có nghĩa “chợ nhỏ”. Dấu vết (dấu ấn, dấu bưu điện, vết máu, vết chân thiếu nghĩa): Dấu có thể bao hàm cả vết nhưng vết không thể thay thế cho dấu. dấu máu = vết máu; dấu bưu điện chứ không ai nói vết bưu điện. Rừng rú (rừng lớn rừng nhỏ). Ngoại trừ một số nhỏ động từ tiếng quan trọng đứng sau, nhất là các từ-ngữ đi với chữ ăn: ăn chịu, ăn mặc, ăn ở, ăn nằm, ăn năn, ăn xài, ăn tiêu, vv. Loại Nôm-Hán: Tức là tiếng đứng trước là Việt và được bổ nghĩa bởi tiếng đứng sau là Hán. Thí dụ: bàn thờ, bị động, bốn phương, chính yếu, chuột xạ, dấu tích, đường thuỷ, gan dạ, h́nh thể, khô khan, làm cao, mang hoạ, người dân, nhà khách, ong mật, rèn luyện, say mê, sức lực, tàu thuỷ, thăm viếng, thợ mộc, trăm phát trăm trúng, sao Kin, tàu hoả, xấu xí, vv Loại Hán-Nôm: Tức là tiếng Hán đứng trước và được tiếng Việt theo sau bổ nghĩa.Thí dụ: chi nhánh, chủ tớ, dân đen, lao khổ, hoả ḷ, học tṛ, hung dữ, hiền lành, hùng mạnh, khi dễ, kính nể, linh thiêng, phân chia, tài sức, lao tù, mật ong, phương thuốc, thâm sâu, tiết canh, trẻ con, âu lo (ưu phiền) Loại Hán-Hán: Tức là cả hai đều từ gốc Hán cả.Thí dụ:
3. Ngữ vị (morpheme):Ngữ vị học Môn nghiên cứu về ngữ vị của một ngôn ngữ nói riêng hay của tất cả ngôn ngữ nói chung.Vậy ngữ vị là ǵ? Đó là đơn vị ngữ học nhỏ nhất có ư nghĩa hoặc có vai tṛ ngữ pháp nào đó. Có hai loại ngữ vị: ngữ vị độc lập và ngữ vị lệ thuộc. - a. Ngữ vị độc lập: ngữ vị có thể tự đứng một ḿnh và có ư nghĩa. Chẳng hạn như: A, E, Ơ, Ư, NÓ, TÔI, ANH, CHỊ, ... - b. Ngữ vị lệ thuộc: ngữ vị không thể đứng riêng một ḿnh. Tiếng Việt có hai ngữ vị lệ thuộc: Ă và Â. Hai ngữ vị này lúc nào cũng cần đi chung với các mẫu tự khác mới trở thành ngữ vị độc lập được. Chẳng hạn: ĂN, ẤM, CẰM, TẦM, ...
4. Âm vị (phonemes):Ngữ âm học nghiên cứu về âm – gồm có ngữ âm phát âm học Ngữ âm học (phonology) Phát âm học (phonetics) (articulatory phonetics), phát âm truyền âm học (acoustic phonetics) và phát âm thính âm học (auditory phonetics).Đặc biệt phần phát âm ngữ âm học chuyên chú đến các phát âm sao cho “đúng” để người nghe hiểu rơ điều người phát âm muốn nói. Trong phạm vi bài này chúng ta sẽ bàn về ngữ âm Việt ngữ bên dưới đây. Xin xem tiếp phần Ngữ Âm Tiếng Việt phần 2. (bài này cần Adobe Acrobat để đọc) |