TÊN VIỆT – TÊN MỸ (TT)



Lời phi lộ: Thưa quư độc giả. Sau bài viết lần trước nói về họ và tên người Việt, phản ứng của quư độc giả, như thường lệ, có người khen kẻ chê. Tác giả xin trân trọng đón nhận mọi ư kiến đóng góp để cho nội dung của bài viết, đặc biệt ư nghĩa của các họ người Việt chúng ta được sáng tỏ. Trong các ư kiến đóng góp, tựu trung gồm ba nhóm: nhóm đồng ư và cổ vơ chúng tôi tiếp tục công việc mà từ trước đến nay chưa ai chịu ghé mắt vào; nhóm không đồng ư th́ cho rằng những cách dịch nghĩa các họ như trên là không chính xác, cần nghiên cứu lại. Tác giả trân trọng ư kiến này và hứa sẽ cố gắng để hoàn thiện.

Riêng nhóm thứ ba th́ cho rằng họ là họ chẳng có ư nghĩa ǵ cả. Điều này tác giả xin tự bênh vực cho ḿnh ngay. Xin xem phần bài chính dưới đây.

Tóm lại, tác giả xin quư vị cao minh chỉ giáo để công việc được hoàn hảo hơn.  

 

Thú vui đặt tên

Từ cổ chí kim, con người có tật hay đặt tên. Bất cứ thứ gí hiện hữu trên cơi đời này đều có cái tên của nó. Thậm chí những v́ sao xa tít mù khơi ngoài không gian vô tận mà loài người có thể vói tay đến cho đến những thần linh trong trí tưởng tượng hay trong một giai đoạn lịch sử huyền hoặc nào đó của nhân loại cũng có tên. Không những một tên, nhiều khi có đến hai hay ba tên. Chẳng hạn cây rau muống, trong các chợ Việt Nam th́ thường theo cách nói của người Tàu gọi là ong choy (có lẽ do âm của hồng tâm thảo mà ra) tiếng Anh th́ gọi là morning glory (vinh quang đán – buổi sáng vinh quang) hoặc climbing bindweed (b́m b́m ḅ) và tên khoa học là Aquatica Ipomoea Convovulus. Cả rau muống lẫn b́m b́m thuộc họ Convolvulus. Ngoài các tên chính thức ra, mỗi địa phương c̣n có tên riêng cho mỗi loại nữa. Chẳng hạn như trái thơm có thêm hai tên nữa là dứa khóm. Tóm lại vạn vật cái ǵ cũng có tên do con người đặt ra cả.

Nay đến tên đặt cho con người, ngoài việc để chỉ danh và để phân biệt với người chung quanh, cái tên đó phải có ư nghĩa nào như tác giả đă thu gọn lại trong 12 khuynh hướng đặt tên trong bài trước huống ǵ cái họ của cả một ḍng họ lại không có ư nghĩa. Có điều cái nghĩa như tác giả t́m thấy có thể không phù hợp hay chính xác th́ điều đó rất có thể xảy ra. Nếu bảo rằng khi đặt tên cho con, cha mẹ luôn luôn t́m cách gán cho nó một ư nghĩa nào đó, kể cả cái tên phản ảnh nỗi hằn học đối với người t́nh phụ đă bỏ bê ḿnh trong lúc mang thai và trốn tránh trách nhiệm làm cha cũng vẫn mang ư nghĩa.

Nếu bảo rằng cái họ không có ư nghĩa tức là vô nghĩa, vậy khi đặt tên cha mẹ cố t́m ư nghĩa tốt đẹp để đi kèm theo cái họ vô nghĩa th́ hoá ra quá mâu thuẫn và nghịch lư lắm sao? Mong quư vị cao minh giúp đỡ cho tác giả bài này có thêm chứng liệu hay sử liệu để làm phong phú kho tàng văn hoá cổ xưa và đang đưa lưu truyền cho đến ngày nay.

Thông thường, trong một gia đ́nh hạnh phúc; vợ chồng thương yêu nhau th́ khi nghe tin vợ có thai, người chồng cảm thấy vui vui, hoà lẫn với chút hồi hộp v́ được làm cha. Từ sau giây phút đó, hai vợ chồng thường hay thảo luận với nhau nên đặt tên cho con ḿnh là ǵ. Việc t́m tên để đặt cho con nhiều khi mất cả tháng hay lâu hơn. Lúc ấy người cha thường phải đi hỏi ông nội, ông ngoại tương lai của đứa bé, bà con, người quen, vv. về ư nghĩa của cái tên ḿnh sắp dùng để dặt cho con. Nếu không được nữa th́ sẽ phải lục lọi khắp trong sách vở, tự điển (chứ không phải từ điển) để t́m. Kể ra cũng thú vị lắm chứ.  

 

Khuynh hướng đổi tên hiện nay

Như vừa nói trên, tên mỗi người đều có ư nghĩa. V́ hoàn cảnh đặc biệt, nhiều người Việt tha hương sanh sống ở xứ người. V́ vậy hiện nay khá nhiều người Việt bỏ tên Việt để lấy tên mới. Nếu ở Mỹ, ở Anh, Úc, ... là những nước nói tiếng Anh, th́ bỏ tên cũ để thay bằng cái gọi là tên Mỹ, tên Anh, tên Úc, vv. Nếu ở Pháp th́ cũng lấy tên Pháp; ở Đức chắc sẽ phải lấy tên Đức, vân vân và vân vân. Nếu thuần tuư như vậy th́ không có ǵ đáng trách cả v́ cha ông ta vẫn thường có câu: Nhập gia tuỳ tục, đáo giang tuỳ khúc. ‘When you are in Rome, you have to act like a Roman.’

Trong phạm vi bài này tác giả muốn tŕnh bày một hiện trạng có thể gọi là đau ḷng. V́ hiện trạng này mang tính chất “va chạm tự ái dân tộc” nên tác giả xin mạo muội nói ra để chúng ta cùng thảo luận. Theo chỗ thấy của tác giả, trong danh sách tên gọi là Mỹ dưới đây có rất ít tên chính gốc của Ăng-lê hay Ái-nhĩ-lan mà đa số là gốc Do Thái – Palestine, Ư, Pháp, Đức, Ả-rập, Tân-ban-nha, La-tinh, ...

Câu hỏi được đặt ra là tại sao các tên của những nước này lại được nằm trong kho tàng của các tự điểm Anh, Mỹ, Larousse? Đó là v́ họ giữ cái tên cũ mang theo từ quê hương cũ sang sinh sống tại Hoa Kỳ. Một thời gian sau, chừng hai ba mươi năm, cái tên đó được ghi vào t ự điển của người Hoa Kỳ và nghiễm nhiên trở thành “tên Mỹ” để các bậc cha mẹ Việt Nam lấy đặt cho con ḿnh. Thật là tội nghiệp cho các trẻ Việt Nam, tự nhiên biến thành người Hy Lạp, người Do Thái lúc nào chẳng hay!
Để tiện việc tham khảo, tác giả xin cống hiến quư độc giả một danh sách tên gọi là “Mỹ” để quư vị tuỳ nghi lựa chọn mỗi khi muốn bỏ tên Việt để đổi thành “cái gọi là” tên Mỹ.

Dưới đây là danh sách các tên “Mỹ” thường thấy, được chia làm hai phần; phần đầu là tên dành cho nữ giới và phần hai dành cho nam giới – theo truyền thống tôn trọng nữ quyền có từ ngàn xưa của của người Việt: vợ chồng.

Chúng tôi sẽ cố gắng tiếp tục cập nhật và t́m thêm cho đến khi thật đầy đủ. Quư vị độc giả có ư kiến ǵ, xin vui ḷng đóng góp. Xin thành thật cảm ơn trước.
 

Tiếp theo ...
Female's names
Male's names